|
Phỏng vấn bà Marina Nemat, nữ văn sĩ công giáo người
Iran, về vai trò của nữ giới trong nỗ lực chống chế độ hồi giáo độc tài.
Ngày 16-12-2010 bà Marina Nemat, nữ văn sĩ công giáo gốc Iran đã chủ tọa
cuộc họp báo tại trung tâm văn hóa Milano bắc Italia, để giới thiệu cuốn
sách tựa đề ”Sau Teheran”. Ngày hôm sau 17 tháng 12, bà đã chủ tọa cuộc
họp báo giới thiệu cuốn sách tại Trung tâm phụ nữ quốc tế ở Roma.
Nữ văn sĩ Marina Nemat đã nổi tiếng với cuốn sách đầu tiên tựa đề ”Nữ tù
nhân của Teheran”, kể lại kinh nghiệm hai năm kinh hoàng sống trong nhà
tù Evin bên Iran. Bà Nemat sinh năm 1965 tại Teheran, nhưng đã được giáo
dục trong đức tin kitô. Thân phụ là người dậy vũ và thân mẫu làm nghề
uốn tóc.
Marina Nemat theo học trung học khi chế độ quân chủ của vua Mohammad
Reza Pahlavi bị lực lượng cách mạnh hồi giáo của Ayatollah Khomeini lật
đổ. Là học sinh hồi đó Marina Nemat phản đối giáo sư dậy toán học, lý do
vì ông dậy Hồi giáo thay vì môn toán học. Giáo sư trả lời rằng nếu cô
không thích điều ông dang đậy, thì có thể đi về. Marina và nhiều bạn học
đã rời bỏ lớp học. Sau đó cô tham dự các buổi biểu tình phản đối chính
quyền và viết các bài báo chống lại đường lối cai trị độc tài đàn áp của
chính quyền hồi trên tờ báo sinh viên.
Ngày 15-1-1982 Marina Nemat bị bắt và bị nhốt trong nhà tù Evin, là nhà
tù biệt giam các tù nhân chính trị nổi tiếng là rất khắc nghiệt. Năm đó
Marina lên 16 tuổi. Cô đã bị hai lính cai ngục hỏi cung, bị tra tấn dã
man và bị kết án tử hình. Nhưng Marina sống sót vì được một lính cai tù
tên là Ali Moosavi cứu thoát. Ali Moosavi yêu cô và dùng các quen biết
ảnh hưởng của mình để cải án tử thành án tù chung thân và hoạch định
chương trình cứu thoát cô. Năm tháng sau đó Ali Moosavi có ý định bắt
buộc Marina phải lấy anh ta và phải theo Hồi giáo. Bị hãm hiếp và bị áp
lực, Marina muốn cứu gia đình khỏi bị bách hại và bảo đảm cho sự sống
còn của mình nên đồng ý theo Hồi giáo và lấy Moosavi. Sau 2 năm 2 tháng
và 12 ngày bị tù, Marina Namat được tự do và có thể sống như là vợ của
Ali Moosavi. Sau này Ali Moosavi bị các cai tù tranh giành ảnh hưởng
giết chết. Sau đó Marina thành hôn với André Nemat, kỹ sư điện, từng là
bạn trai và là người tình của mình thời còn đi học. Năm 1991 hai vợ
chồng trốn sang Canada tị nạn.
Marina Nemat đã bị chính quyền của các Ayatollah bỏ tù từ năm 1982 tới
năm 1984. Nhưng mãi cho đến năm 2008 bà mới cho xuất bản cuốn sách kể
lại chứng từ của bà liên quan tới hai năm kinh hoàng này. Cuốn sách đã
lập tức trở thành cuốn sách bán chạy nhất thế giới. Tuy nhiên, độc giả
có thể thắc mắc không hiểu tại sao chấn thương tinh thần đó đã cần phải
đợi 20 năm sau mới được biện soạn thành lời. Cuốn sách thứ hai ”Sau
Teheran” kể lại cuộc sống của Marina và gia đình bà sau khi được giải
thoát và di cư sang Canada hồi năm 1991, nơi bà hiện sống với chồng và
hai người con.
Marina Nemat đã lên tiếng thay cho hàng ngàn tù nhân chính trị đã bị chế
độ hồi giáo độc tài sát hại và vạch trần cách đối xử tàn bạo của chính
quyền Iran đối với các tù nhân chính trị. Cuốn sách của bà đã được dịch
ra 13 thứ tiếng khác nhau và bà cũng đã bán bản quyền cho đài tryền hình
Canada để biến cuốn sách trở thành chuyện phim. Từ khi cho xuất bản cuốn
sách đến nay bà Marina Nemat đã diễn thuyết tại nhiều trường cao học và
đại học trên toàn nước Canada. Bà cho biết Iran đã thay đổi nhiều, nhưng
không trở thành khá hơn. Các vị tổng thống như ông Khatami và
Ahmadinejad cũng không thể làm gì hơn, vì quyền bính thực sự nằm trong
tay Ayatollah Khamenei, người kế vị Ayatollah Khomeini, và các vệ binh
cách mạng hồi. Hiện nay nhà tù Evin có ít tù nhân hơn, nhưng họ vẫn bị
đối xử tàn tệ như hồi thập niên 1980 vậy.
Sau đây chúng tôi xin gửi qúy vị và các bạn bài phỏng vấn nữ văn sĩ
Marina Nemat về các tác phẩm của bà và vai trò mà nữ giới Iran có thể có
trong cuộc vùng dậy chống chế độ hồi độc tài.
Hỏi: Thưa bà Nemat, cuốn “Sau Teheran” là tác phẩm thứ hai kể lại
cuộc sống của bà và gia đình bên Canada cho tới ngày nay. Nhưng so với
cuốn sách đầu tiên, các lý do làm nảy sinh ra cuốn sách này rất khác, có
đúng thế không?
Đáp: Vâng, đúng vậy. Lý do là vì khi tôi viết cuốn ”Nữ tù nhân
của Teheran” chính là để tự chữa trị cho chính tôi, chữa trị cho chấn
thương tâm sinh vật thể lý mà chế độ đã gây ra cho tôi, khi tôi chỉ là
một nữ sinh: tôi bị tù khi mới 16 tuổi, rồi bị tra tấn và bị bắt buộc
lấy người canh tù, là người đã hãm hiếp tôi và cưỡng bách tôi bỏ đạo
Công Giáo để theo Hồi giáo. Khi tôi được trả tự do, cha mẹ tôi đã không
hỏi tôi điều gì cả. Theo các ngài, tôi phải xóa bỏ kinh nghiệm đã có:
đây là thái độ đã khiến cho tôi cảm thấy mình có lỗi trong một cách thức
nào đó. Vì người thanh niên công giáo mà tôi đã yêu trước khi bị tù vẫn
chờ đợi tôi, nên tôi đã muốn lấy anh ta theo lễ nghi công giáo, mặc dù
tôi góa chồng người hồi, và vì thế có thể bị án tử vì bỏ Hồi giáo. Do
đó, tình trạng của chúng tôi rất là nguy hiểm. Đó là lý do cần phải di
cư khỏi Iran. Chúng tôi đã phải chắt bóp và vay nợ để có thể chạy các
giấy tờ cần thiết cho việc di cư. Sau cùng chúng tôi đã tới được Canada,
nơi có người anh ruột của tôi sinh sống, và cả cha mẹ chúng tôi cũng đã
có thể sang Canada đoàn tụ với chúng tôi. Nhưng việc di cư đó vẫn chưa
phải là một kết thúc hạnh phúc. Cố gắng bứng nhổ quá khứ đã khiến cho
tôi phải sống các cơn ác mộng, các ám ảnh, các cảnh cũ quay lại, các đảo
lộn tâm thể lý và tinh thần.
Hỏi: Thưa bà, vậy đâu là lúc đã giải phóng bà khỏi gánh nặng qúa khứ
thương đau đó và khiến cho bà biên soạn ra cuốn sách kể lại kinh nghiệm
bị chấn thương này?
Đáp: Biến cố khiến cho nỗi đớn đau trào ra là cái chết của mẹ tôi
hồi năm 2000. Trong đám táng của bà sự giận dữ mà tôi tích tụ đã trào
dâng, vì mẹ tôi đã luôn luôn khước từ không để cho tôi thổ lộ gì với bà
cả. Từ từ tôi đã tự cho phép mình gợi lại tất cả những gì đã xảy ra cho
tôi, và tôi cảm thấy cần phải ghi lại các kỷ niệm ấy. Tôi ghi danh theo
học một khóa sáng tác văn chương, và tôi viết lại những gì tôi đã sống
và chia sẻ với giáo sư và các bạn học cùng lớp. Thế rồi việc đọc các ký
ức của một vài người tù Iran cũng đã giúp tôi hiểu rằng có biết bao
nhiêu người khác đã sống các kinh nghiệm tương tư như các kinh nghiệm
của tôi. Đó đã là một lộ trình dài và đau đớn, nhưng cuối cùng tôi đã
viết xong cuốn sách mà tôi muốn và việc xuất bản nó đã là một phần
thưởng cho tôi. Nó đã trao ban cho tôi một cuộc sống mới, trường thành
hơn và ý thức hơn. Hiện nay tôi trợ giúp các cựu tù nhân khác, bằng cách
cống hiến cho họ những gì tôi đã bị khước từ và không đươc hưởng. Nghĩa
là với câu nói đơn sơ này: ”Khi nào bạn sẵn sàng muốn thổ lộ, thì hãy
đến với tôi”.
Hỏi: Thưa bà Nemat, bà đã là một gương mặt biểu tượng của các nạn
nhân của chế độ hồi giáo độc tài Iran cùng với các phụ nữ khác như nữ
sinh Neda bị sát hại, nữ nhà báo Roxana Saberi, bà Sakineh đang bị tù.
Tại sao những người bất đồng ý kiến với chế độ độc tài Iran lại là phái
nữ?
Đáp: Cuộc cách mạng hồi giáo chắc chắn đã đảo lộn cuộc sống của
toàn dân Iran, nhưng phụ nữ đã là những người bị trừng phạt nhất: vào
thời của vua Iran nữ giới chúng tôi đã mặc váy ngắn, tô son đánh phấn và
chúng tôi đã có thể có cung cách hành xử như các chị em phụ nữ tây âu,
thế rồi kiểu ăn mặc của chúng tôi đã bị coi là bất hợp pháp. Theo tôi,
chính các phụ nữ khi chúng tôi nhất loạt cùng nhau quyết định ăn mặc một
cách tự do hơn, chúng tôi có thể thực thi một sự bất đồng ý kiến có ý
nghĩa. Họ sẽ không thế bắt bỏ tù tất cả mọi phụ nữ không mang áo burqa
che kín mặt mũi, nếu chúng tôi xuống đường tràn đầy khắp nơi.
Hỏi: Thưa bà, bà là tín hữu công giáo, bà có nghĩ rằng tại Iran cũng
có việc bách hại các Kitô hữu như đang xảy ra tại Irak và tại Pakistan
hay không?
Đáp: Truyền thống của chúng tôi là một truyền thống khoan nhượng
tôn giáo. Đã không bao giờ có các cuộc bách hại chống lại các kitô hữu
tại Iran và tôi không nghĩ rằng sẽ xảy ra các cuộc bách hại tín hữu kitô
tại Iran. Tuy nhiên, điều quan trọng đó là thế giới tây âu phải gửi các
sứ điệp để làm cho có sự kính trọng lớn hơn đối với các quyền con người
tại Iran. Cả tại Italia này tôi cũng sẽ nói chuyện trong các trường học
và tôi sẽ xin các độc giả và sinh viên gửi các sứ điệp cho tôi để bênh
vực bà Sakineh, và tôi sẽ phố biến các sứ điệp bảo vệ đó trên hệ thống
Internet. Đây là cuộc chiến đấu mà mọi người đều phải dấn thân: dấn thân
bênh vực các quyền con người, dấn thân cho các quyền tự do và nhân phẩm. |